TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI TIỂU THUYẾT CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ NAM BỘ CUỐI THẾ
KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI TIỂU THUYẾT CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
Hà Thanh Vân
Những tác phẩm tiểu thuyết quốc ngữ
Nam Bộ ra đời cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX chính là những tác phẩm mở đầu cho
khuynh hướng hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam. Nhận định này hiện nay đã được
sự đồng tình của hầu hết những nhà nghiên cứu văn học. Những đóng góp của tiểu
thuyết quốc ngữ Nam Bộ cho nền văn học Việt Nam trong tiến trình hiện đại hóa
cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu lưu tâm và bước đầu đã đi đến một số kết luận
khoa học cơ bản. Cũng đã có những quan tâm đến việc so sánh giữa tiểu thuyết
miền Nam và miền Bắc trong giai đoạn này. Và cũng có những so sánh tương quan
giữa những tác phẩm tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ với hai nguồn ảnh hưởng lớn là
những tác phẩm tiểu thuyết của hai nền văn học Trung Quốc và văn học Pháp. Tuy
nhiên nếu đặt tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ trong mối tương quan với văn học
Trung Quốc và văn học Pháp thì chúng ta sẽ thấy rõ việc so sánh ảnh hưởng là
không thể tránh khỏi và đi đến việc thừa nhận một thực tế là trong nhiều năm,
văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ nói riêng luôn đóng
vai trò là một nền văn học tiếp nhận, cho dù sự tiếp nhận có thể đã được Việt
hóa sâu sắc.
Nếu đặt tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong một mối tương quan khác, thì có thể quá
trình nghiên cứu về dòng tiểu thuyết này sẽ có những hướng tiếp cận mới hơn. Cụ
thể là nên đặt sự phát triển của tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ trong mối tương
quan với tiểu thuyết của các nước Đông Nam Á trong thời kỳ này. Từ đó chúng ta
có thể tìm hiểu những vấn đề cụ thể như thời điểm ra đời của những cuốn tiểu
thuyết đầu tiên ở mỗi nước, những khía cạnh nội dung, nghệ thuật… và có thể
nhìn nhận vị trí của tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ trong bối cảnh của những nước
có sự phát triển văn học tương đối tương đồng với Việt Nam trên nhiều phương
diện.
1.
KHỞI ĐẦU TỪ
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ, XÃ HỘI TƯƠNG ĐỒNG...
Sự
hiện đại hóa văn học ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á, ngoài những nguyên nhân
nội tại, còn xuất phát từ một thực tế là sự tiếp xúc, giao lưu với những nền
văn hóa khác, dù là dưới hình thức tự nguyện hay bắt buộc, cũng đều góp phần
thúc đẩy tiến trình này. Nếu như những ảnh hưởng từ Ấn Độ trong suốt thời cổ và
trung đại đã góp phần làm rực rỡ thêm những thành tựu của văn học Đông Nam Á
thì có thể nói chính cuộc xâm lược của các nước phương Tây đã khiến cho văn học
các nước Đông Nam Á bước vào một thời kỳ mới, tạm gọi là thời kỳ “chịu sự tác
động văn hóa lần thứ hai”. Sớm nhất là Philippines khi thực dân Tây Ban Nha xâm
lược đất nước này vào thế kỷ XVI. Tiếp đó là sự xâm lược hàng loạt của các nước
phương Tây vào thế kỷ XIX, XX như Hà Lan xâm lược Indonesia, Pháp xâm lược Việt
Nam, Lào, Campuchia, Anh xâm lược Myanmar và đặt ảnh hưởng của mình lên Thái
Lan… Có những dân tộc, đất nước thậm chí đã không sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, đổi theo họ tên của những người đi xâm lược và không còn theo tôn giáo bản địa như Philippines. Các trí thức của các
nước Đông Nam Á, vốn được đào tạo để phục vụ chế độ thực dân, nhưng chính họ đã
góp phần truyền bá văn hóa, văn học phương Tây và ở một chừng mực nào đó họ
chính là những người mở đường, những người đi tiên phong, có công khai sáng nền
văn học hiện đại ở nước họ.
Sự ra đời của báo chí, nhà in và cả những trường học theo mô hình giáo
dục phương Tây, trong đó văn hóa, ngôn ngữ phương Tây được chú ý truyền dạy
cũng là một động lực thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa văn học. Thông thường nhà
in theo kiểu phương Tây ra đời xuất phát từ nhu cầu in ấn giấy tờ phục vụ việc
cai trị, sau dần có thêm vai trò in báo, sách. Sự tham gia của tư nhân vào việc
mở nhà in ngày càng nhiều cũng là một động lực thúc đẩy nền học phát triển.
Nhiều nhà văn đã tự đứng ra in sách, bán sách. Ở Nam Bộ, nhiều tên nhà in đã đi vào lòng độc giả như nhà in
Imp. De l’Union, nhà in Bảo Tồn, nhà in Đức Lưu Phương, nhà in Xưa Nay… Ở
Indonesia, trong những năm 20 của thế kỷ XX, vai trò của một tổ chức văn học,
đồng thời cũng là một nhà xuất bản (Balai Pustaka) nổi bật đến nỗi nhiều nhà
nghiên cứu văn học đã lấy tên của nhà xuất bản để gọi văn học giai đoạn này là
“giai đoạn Balai Pustaka”. Chỉ riêng từ năm 1918 đến năm 1941, Balai Pustaka đã
xuất bản gần 2.000 cuốn sách bằng các thứ tiếng khác nhau.
Vai trò của báo chí đối với văn học trong thời kỳ này
là một vai trò có tính chất đỡ đầu, là bà đỡ cho những tác phẩm văn học ra đời.
Khởi thủy là những bài viết ngắn dưới dạng những câu chuyện được thuật lại, kể
lại, sau đó là những đoạn văn dịch từ tác phẩm văn học nước ngoài, có thể đăng
dài hay ngắn kỳ, sau đó nữa là những tác phẩm thơ ca, đoản thiên hay trường
thiên tiểu thuyết của chính những tác giả bản địa sáng tác được đăng tải trên
mặt báo. Đây cũng là đặc điểm chung của văn học các nước Đông Nam Á.
Ở Nam
Bộ lúc bấy giờ có những tờ báo nổi bật như “Nông cổ mín đàm”, “Lục
tỉnh tân văn”, “Công luận báo” thu hút nhiều độc giả nhờ
vào nội dung hay, hấp dẫn, đội ngũ làm báo, chủ báo cũng đều là những người có
uy tín trong trường văn bút… Ở các nước láng giềng Đông Nam Á, tình hình báo
chí hoạt động cũng rất sôi nổi. Tuy nhiên ở một số nước như Thái Lan,
Philippines, Myanmar, sự phát triển của báo chí viết bằng các ngôn ngữ phương
Tây cũng rất đáng kể và chính điều này làm cho các tác giả của họ không chỉ sử dụng
ngôn ngữ mẹ đẻ để sáng tác mà còn sử dụng cả ngôn ngữ phương Tây nữa. Nhà văn
Philippines José Rizal đã dùng tiếng Tây Ban Nha để sáng tác hai cuốn tiểu
thuyết nổi tiếng nhất của mình.
Sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã mang đến cho văn
học các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt
2. CHO ĐẾN ĐỘI NGŨ NHỮNG NGƯỜI CẦM
BÚT VÀ QUAN NIỆM SÁNG TÁC CỦA HỌ.
Vốn đã có những đô thị cổ tập trung khá đông dân,
nhưng cho đến khi người phương Tây xâm lược, bắt tay vào việc khai thác thuộc
địa, thì ở các nước Đông Nam Á mới hình thành những đô thị theo kiểu phương
Tây. Cùng với việc hình thành những đô thị là việc xây dựng bộ máy quản lý hành
chính, hệ thống luật pháp, và quan trọng hơn cả là việc hình thành một đội ngũ
thị dân. Một tầng lớp bản xứ thượng lưu được hình thành, một phần là từ những
người vốn thuộc đẳng cấp quý tộc, địa chủ, thương gia bản địa, nay đã phương
Tây hóa, một phần là từ những người được chính quyền thuộc địa đào tạo, ra phục
vụ cho chính quyền thuộc địa. Nhiều người trong số họ du học ở ngoại quốc,
thành thạo ngôn ngữ phương Tây. Nghề nghiệp của họ rất đa dạng, có thể là công
chức, là bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, quan cai trị, thậm chí là người đứng đầu
quốc gia… Những tác giả Nam Bộ như Biến Ngũ Nhy vốn là “lương y bổn quốc”, tức
là y sĩ, Hồ Biểu Chánh từng xuất thân tri huyện, rồi chủ quận, nghị viên, phó
đốc lý.
Cũng có thể khái quát nên chân dung chung nhất của
những nhà viết tiểu thuyết trong thời kỳ đầu ở các nước Đông Nam Á. Đặc điểm dễ
nhận thấy nhất ở họ, ngoài việc có một tài năng nghệ thuật nhất định, một tư
duy sáng tạo nghệ thuật đã thoát ra khỏi tư duy truyền thống từ mấy ngàn năm
trước thì hầu như tuyệt đại đa số đều là những người có vốn học thức và văn hóa
phương Tây khá cơ bản. Họ nhận thức rõ sự cần thiết phải bắt tay vào việc xây
dựng một nền văn học mới. Cuộc thi tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam
do báo “Nông Cổ Mín Đàm” đứng ra tổ
chức (số 262 ngày 23.10.1906) đã đề ra yêu cầu viết tiểu thuyết theo lối viết
của người Pháp: “(Người Langsa gọi Roman nghĩa là lấy trí riêng mình mà đặt ra
một truyện tùy theo nhơn vật, phong tục trong xứ, dường như truyện có thiệt
vậy).
Diễn dẫn một cuốn chừng 50 tờ giấy lớn.
Chia làm ba thứ:
- Thứ nhất: Gầy đầu, căn nguyên, lý lịch, kết cấu vân
vân
- Thứ nhì: Ân oán, sanh sự, buông lung, trần ai, lưu
lạc vân vân
- Thứ ba: Cha con vợ chồng hòa hiệp, ân báo ân, oán
báo oán vân vân
Phải giữ cho đừng lạc đề.
Đặt tiếng thường, thanh nhã, dễ hiểu như truyện vậy.
Trong cuộc đời phải đem hết những việc quan hôn, tang
tế, thầy thuốc, thầy chùa, thầy phép vân vân. Tốt khen, xấu chê. Phải có cang
thường luân lý, nhơn duyên, thiện ác.
Không đặng dùng những việc dị đoan, hễ chết mà có muốn
cho sống lại thì nhờ đến thuốc hay, thầy giỏi, chớ nói đến quỷ thần, còn muốn
phạt thì đau bịnh mà chết hoặc lôi đả, súng xạ, gươm máy vân vân.”
Ở Thái Lan học giả Praja Praklang, người được xem như
một nhà khai sáng vào những năm 60 của thế kỷ XIX cũng có một nhận định tương
tự khi ông cảnh báo về nền văn học của nước mình: “Nền văn học của nước Xiêm
chúng ta không những nghèo nàn mà còn vô nghĩa nữa. Nó ngập ngụa trong những
câu chuyện về ma quỷ cướp đàn bà con gái, về những người đàn ông đánh nhau với
ma quỷ; nó kể về những con người kỳ lạ biết bay trong không khí, và dựng người
chết lên thành người sống. Và ngay cả khi tác phẩm nhằm dạy người ta điều gì đó
thì cũng dạy sai, dạy vô ích” (Văn học
Thái Lan sơ khảo. K. Kornev. Lan Hương dịch. Tài liệu lưu trữ tại Viện
Thông tin Khoa học xã hội, trang 135.)
Cùng với nhận định đó, ông kêu gọi người Thái Lan phải
xây dựng một nền văn học mới.
Ảnh hưởng của một tôn giáo mới cũng là điểm chung dễ
nhận thấy ở nhiều nhà văn Đông Nam Á trong thời kỳ này. Nhiều người trong số họ
là tín đồ Công giáo. Một tôn giáo mới, hoàn toàn xa lạ với tôn giáo bản địa của
các nước Đông Nam Á đã theo chân những nhà truyền giáo phương Tây du nhập vào.
Đó là Công giáo. Nhiều nhà văn mở đường trong giai đoạn này là tín đồ Công giáo
và nội dung tác phẩm của họ thấy rõ bóng dáng những ảnh hưởng của Công giáo. Ở
Việt Nam, Nguyễn Trọng Quản (1865 – 1911) là một tín đồ Công giáo và tác phẩm “Thầy
Lazaro Phiền” với nội dung viết về cuộc đời đầy nỗi ân hận và sự sám
hối của thầy tu Lazarô Phiền. Ở
3. TIỂU
THUYẾT LÀ MỘT THỂ LOẠI CÓ NHIỀU THÀNH TỰU VÀ CŨNG LÀ THỂ LOẠI ĐÁNH DẤU SỰ
CHUYỂN MÌNH SANG HƯỚNG HIỆN ĐẠI CỦA VĂN HỌC CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
Thể loại đánh dấu sự chuyển mình sang hướng hiện đại
của văn học các nước Đông Nam Á, theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu trên
thế giới, chính là tiểu thuyết. Đây là điều đặc biệt có ý nghĩa vì truyền thống
văn học của Đông Nam Á, cả văn học dân gian và văn học viết thời kỳ trung đại
đều nghiêng về thơ ca. Chính thơ ca mới là những tác phẩm đạt được những thành
tựu đỉnh cao trong văn học Đông Nam Á trong những giai đoạn trước. Tất nhiên
thành tựu về tiêu thuyết của từng nước không giống nhau. Sự xuất hiện của tiểu
thuyết hiện đại đầu tiên ở từng nước cũng không đồng đều. Ở Philippines tiểu
thuyết đầu tiên là tác phẩm “Urbane và Felisa” của Modesto De
Kasta ra đời năm 1877. “Bất hạnh và đau khổ” của nhà văn
Merari Siregar (1886 – 1940) ra đời năm 1920 là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của
Indonesia viết về số phận tình duyên long đong và bất hạnh của một cô gái. Ở
Myamar là năm 1904, ở Thái Lan là năm 1915, ở Malaysia là 1926, ở Campuchia là
năm 1938, ở Lào muộn nhất là năm 1968. Đối với các nhà nghiên cứu phương Tây
thì tiểu thuyết của các nước
Sự chuyển mình của tiểu thuyết các nước Đông Nam Á thể
hiện rõ nét nhất ở nội dung tác phẩm. Ngoài một số tác phẩm mô phỏng, lấy đề
tài hay phóng tác từ tiểu thuyết phương Tây, thì chủ yếu các nhà văn đã hướng
ngòi bút vào việc miêu tả những câu chuyện của đời sống hiện đại, đưa vào tiểu
thuyết hình ảnh những con người chân thực, gần gũi với đời thường. Trong đó,
chủ đề về tình yêu nam nữ vượt ra ngoài lễ giáo truyền thống có lẽ là chủ đề
phổ biến nhất trong tiểu thuyết các nước Đông Nam Á thời kỳ này. Một loạt những
tác phẩm của Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Myanmar… đều được gọi là “tiểu
thuyết tập tục” vì lẽ đó.
Trên phương diện nghệ thuật, có lẽ chỉ trừ tiểu thuyết
quốc ngữ Nam Bộ còn thấy phảng phất bóng dáng của tiểu thuyết chương hồi Trung
Quốc, thì tiểu thuyết của các nước Đông Nam Á đã chuyển mình theo hướng phương
Tây hóa hoàn toàn, từ việc chọn lựa chủ đề cho đến kết cấu nội dung tác phẩm và
cách thức xây dựng nhân vật. Do vậy, nhiều tiểu thuyết ở các nước Đông Nam Á
nếu đặt bên cạnh những tiểu thuyết phương Tây ra đời cùng thời kỳ thì không
thấy có sự khác biệt nhiều lắm cả về nội dung và nghệ thuật. Có chăng chỉ là sự
khác biệt do địa bàn sáng tác, thể hiện cụ thể ở bối cảnh dựng truyện, phong
tục tập quán… Chính vì vậy, không ít quốc gia Đông Nam Á đã gọi văn học giai
đoạn này là “văn học thời kỳ thực dân” với hàm ý chỉ sự ảnh hưởng rõ rệt của
văn học phương Tây, và văn học giai đoạn sau được gọi là “văn học hậu thực dân”
hay “văn học thời kỳ độc lập”.
4. VỊ TRÍ CỦA TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ NAM BỘ TRONG
TƯƠNG QUAN VỚI TIỂU THUYẾT CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á.
Tiểu thuyết Nam Bộ nói riêng và do đó cũng là tiểu
thuyết Việt
Nếu như ở các nhà văn Đông Nam Á, ý thức của người
viết văn chuyên nghiệp được thể hiện khá rõ thông qua việc họ chú ý lưu giữ tác
phẩm, để lại tiểu sử, tuyên truyền cho văn nghiệp của mình, cho nên việc phục
dựng lại giai đoạn văn học trong tiến trình hiện đại hóa ở các nước Đông Nam Á
hầu như ít gặp khó khăn. Ngược lại, đối với các nhà nghiên cứu văn học ở Việt
Nam, thông tin về tiểu thuyết Nam Bộ trong giai đoạn này vẫn còn rất nhiều
thiếu sót và hiện nay vẫn lịch sử tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ vẫn còn nhiều
trang trắng. Việc cần thiết phải khôi phục lại ở mức độ cao nhất diện mạo của
văn học thời kỳ này đang là điều cần kíp hơn bao giờ hết và có thể chúng ta sẽ
nhìn nhận lại những tác giả Nam Bộ với một diện mạo đầy đủ hơn, đánh giá được đúng
mức tầm vóc của họ hơn.
Còn hiện nay căn cứ trên những tư liệu chúng ta có
được, cũng phải khẳng định ngay một điều rằng ở tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ
thấy rõ hiện tượng “đi trước về sau”. Dù xuất hiện khá sớm so với những tiểu
thuyết các nước Đông Nam Á, thì tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ lại không có được
những thành tựu đỉnh cao. Giữa rất nhiều tác phẩm tiểu thuyết, chúng ta rất khó
chọn được ra những tác phẩm xuất sắc nhất, nổi bật nhất để có thể dịch thuật,
giới thiệu ra thế giới. Tất nhiên ở đây cũng phải kể đến một nguyên nhân khách
quan là nhiều tác giả Đông Nam Á đã sử dụng cả ngôn ngữ bản địa và ngôn ngữ
phương Tây khi sáng tác tác phẩm. Do vậy sức truyền bá và ảnh hưởng của những
tác phẩm này đối với thế giới bao giờ cũng ở một mức độ đáng kể.
Trong khi tiểu thuyết các nước Đông Nam Á đã dấn
mình vào quỹ đạo hiện đại của văn học thế giới (ở đây nên hiểu là của văn học
phương Tây) thì không ít tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ lại thể hiện rõ xu hướng
sáng tác theo kiểu tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, với cách viết kiểu chương
hồi. Khác với nhà văn các nước Đông Nam Á khác, tư duy sáng tác của các nhà văn
Nam Bộ thời kỳ này vẫn còn chịu ảnh hưởng rất mạnh của truyền thống tiểu thuyết
Trung Quốc. Hai ảnh hưởng song hành của Pháp và Trung Quốc cũng là một nguyên
nhân khiến cho các nhà văn Nam Bộ vẫn chưa ngả hẳn sang hướng hiện đại hoàn
toàn.
Một trở ngại nữa về mặt nghệ thuật phải tính đến là
việc các nhà văn Nam Bộ phải dùng một thứ chữ còn đang trong quá trình hình
thành, ổn định và phát triển để sáng tác là chữ quốc ngữ. Văn viết như văn nói,
sai lỗi ngữ pháp, chính tả là điều chúng ta buộc phải chấp nhận khi sử dụng một
công cụ chữ viết mới, đặc biệt công cụ này lại còn chưa hoàn thiện.
Thế nhưng với tất cả những ưu và nhược điểm trong
cách viết của những nhà văn Nam Bộ, chúng ta vẫn phải ghi nhận họ là những
người mở đường và có công khai phá một thể loại mới cho văn học Việt
*********
Ghi chú: Những tư liệu trong bài viết dựa theo các tư liệu sưu tầm được khi thực
hiện công trình nghiên cứu “Tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX” của Trung tâm nghiên cứu Văn hóa và Văn học – Viện KHXH vùng Nam Bộ
và bộ tác phẩm “Hợp tuyển văn học các nước ASEAN” (Anthology of ASEAN
Literatures) do Ủy ban Văn hóa và Thông tin ASEAN (ASEAN Committee on Culture
and Information) xuất bản trong hai thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX.
Nhận xét
Đăng nhận xét